Thứ Tư, 13 tháng 6, 2012

Muốn chuẩn phải đồng bộ


Thứ Tư, 13/06/2012, 08:56 (GMT+7)
TT - Đọc loạt bài “Giáo viên tiếng Anh rớt như sung rụng” trên báo Tuổi Trẻ, chắc hẳn nhiều người cảm thấy bất ngờ và hoang mang. Nhưng đối với những giáo viên ngoại ngữ từng dự các cuộc khảo sát ấy cũng như những người trực tiếp tổ chức khảo sát, nếu kết quả không thấp mới là lạ!
Quay trở về những năm cuối thập kỷ 1980 đến giữa thập kỷ 1990 - lúc nước ta bắt đầu đưa tiếng Anh vào giảng dạy ở các trường phổ thông, giáo viên tiếng Anh thiếu trầm trọng nên các tỉnh đã ồ ạt gửi người đi đào tạo.
Tại thời điểm ấy, ở khoa ngoại ngữ của các trường đại học lúc nào cũng có rất nhiều lớp mang tên địa phương cùng với các lớp cử tuyển của bộ. Các lớp này đương nhiên không kiểm tra chất lượng đầu vào nên cho dù đào tạo ở các trường đại học có tốt đến bao nhiêu đi nữa thì đầu ra cũng không thể nào ngang bằng với các lớp chính quy. Ngoài ra, sinh viên ở ngay các trường đại học cũng không có nhiều cơ hội thực hành tiếng với người bản ngữ.
Thêm vào đó, mặc dù nước ta hội nhập đã lâu nhưng giáo viên tiếng Anh chẳng có mấy cơ hội tiếp cận với thế giới cũng như để thực hành tiếng. Dĩ nhiên, ngành giáo dục luôn kêu gọi mỗi giáo viên là một tấm gương tự học và sáng tạo. Nhưng chất lượng chung không thể nào vì kêu gọi tự giác (hoặc tự phát) mà cao lên được. Mỗi năm vào dịp hè, giáo viên lại được tập trung mấy ngày gọi là tập huấn chuyên môn (cho có). Mỗi tỉnh cử vài người đi tập huấn, rồi những giáo viên được tập huấn này về truyền đạt lại cho các giáo viên khác. Chất lượng của những ngày tập huấn ngắn ngủi này chẳng khác gì những giọt cà phê dưới phin.
Thế rồi đùng một cái, giáo viên được triệu tập để khảo sát theo tiêu chuẩn chung của châu Âu. Sát hạch theo chuẩn quốc tế nhưng tổ chức lại cập rập chẳng giống bất cứ kỳ thi nào. (Nếu muốn lấy chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế nào, thí sinh phải có thời gian tự học hoặc tham gia ôn tập mới mong đạt được kết quả mong muốn). Ai cũng biết không chỉ là kiến thức, ngoại ngữ còn là một kỹ năng, cần rèn luyện và thực hành nhiều.
Không chỉ ngơ ngác với kết quả thi thảm hại, giáo viên tiếng Anh còn bất ngờ hơn với kiểu bổ sung kiến thức sau khảo sát. Theo tiêu chí, giáo viên THPT phải đạt được trình độ C1, THCS phải đạt trình độ B2 và giáo viên tiểu học là B1. Để đạt từ trình độ thấp lên trình độ cao hơn, giáo viên sẽ được bồi dưỡng kiến thức kỹ năng trong vòng... một tháng! Bốn năm đào tạo ở đại học có thể không đạt chuẩn nhưng chỉ cần độ một tháng bổ sung kiến thức là có thể đạt chuẩn châu Âu? Cho nên, vừa kết thúc năm học giáo viên ngoại ngữ lại chộn rộn chuẩn bị để tham gia các lớp đào tạo lại (mà một số người gọi là lớp “giải ngân dự án”).
Khảo sát và đào tạo lại đương nhiên là việc làm cần thiết, nhưng liệu có thật sự hiệu quả không hay chỉ hao tiền tốn của khi chương trình học và cách thức kiểm tra đánh giá vẫn như cũ? Với chương trình học vẫn mang nặng tính hàn lâm và các bài thi thiên về đọc hiểu và ngữ pháp, từ vựng như hiện nay, đừng nói gì giáo viên đạt chuẩn hay không đạt chuẩn mà cứ thử đưa giáo viên bản ngữ về dạy ôn thi tốt nghiệp xem kết quả có đạt cao như mong muốn? Nếu không có sự thay đổi đồng bộ, e rằng dự án đi qua, mọi thứ lại im lìm như cũ.
Nên chăng cần xem xét lại cách thức kiểm tra đánh giá đối với môn ngoại ngữ. Nên xem ngoại ngữ là một chứng chỉ bắt buộc đối với học sinh tốt nghiệp THPT hơn là một môn thi. Bên cạnh đó, để tiếp cận với chuẩn chung của thế giới, tại sao chúng ta không sử dụng giáo trình chung mà phải tự soạn ra bộ sách riêng của mình? Dạy và học theo giáo trình nội địa để bắt kịp tiêu chuẩn châu Âu, liệu có phải là một việc quá sức cho cả thầy lẫn trò?
 LÊ THÚY HẰNG

Sẽ mãi yếu và thiếu


Thứ Ba, 24/04/2012, 08:44 (GMT+7)
TT - Đọc bài báo “Giáo sinh không muốn cam kết đi dạy?” viết về mấy trăm sinh viên Trường đại học Sư phạm TP.HCM không chịu nộp bản cam kết phục vụ trong ngành giáo dục, là người trong ngành tôi không khỏi cảm thấy xót xa.
Dư luận cho rằng các em đã thi vào trường sư phạm, đã được hưởng chế độ miễn học phí, thế mà khi sắp ra trường lại do dự không muốn đi dạy là một việc đáng chê trách. Có người cực đoan hơn còn quy chụp cho các em “mất tư cách” và đòi phạt thật nặng. Nhưng nói đi cũng phải nói lại, trong thời buổi “thừa kinh tế ế sư phạm” này, khi đầu vào tuyển sinh sư phạm đang “tuột dốc không phanh”, thậm chí có trường hợp “con thi sư phạm mẹ đòi chết” như báo chí đã đưa tin, việc các em can đảm chọn trường sư phạm đã là một việc đáng ghi nhận.
Còn ngành giáo dục, liệu biện pháp “bắt cam kết” để giữ chân đã phải tối ưu chưa hay chỉ là giải pháp tình thế? Nếu cứ tiếp tục “thu hút nhân lực” bằng biện pháp “trói chân” này thì đội ngũ giáo viên sẽ vẫn mãi yếu và mãi thiếu.
Những năm 1990 khi Chính phủ bắt đầu thực hiện chính sách ưu đãi cho ngành giáo dục, số sinh viên thi vào ngành sư phạm khá cao và đương nhiên điểm thi tuyển vào ngành sư phạm luôn cao hơn so với các ngành khác. Thời đó, chỉ những học sinh khá giỏi mới dám thi tuyển vào sư phạm với tỉ lệ chọi rất cao.
Những tưởng nền giáo dục từ đó sẽ chiêu mộ được nhiều người tài giỏi và có tâm huyết, chấm dứt thời kỳ “chuột chạy cùng sào lao vào sư phạm”. Nhưng, cùng với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế, do những chính sách ưu đãi cho ngành giáo dục không theo kịp đà phát triển đó, số lượng người chọn nghề sư phạm ngày càng rơi rụng dần, đến nay ngay cả những “con chuột chạy cùng sào” đã gần đến đích cũng do dự, không muốn phục vụ trong ngành sư phạm nữa!
Không chỉ những người đang lấp ló ngoài ngành ngại bước chân vào sư phạm, chính bản thân những người trong ngành như chúng tôi đây cũng đang rất bối rối và không ít người đã đành đoạn “bỏ trường, bỏ lớp”. Ngân sách đầu tư cho giáo dục năm sau bao giờ cũng nhiều hơn năm trước, nhưng khoản ngân sách đầu tư cho những người trực tiếp tham gia công tác giáo dục thì vẫn giậm chân tại chỗ. Các cấp quản lý than rằng lực lượng giáo viên đông quá, không ngân sách nào bù xuể. Đúng là đang có vấn đề, dường như ngành giáo dục đang chú trọng về số lượng hơn là chất lượng nhân lực!
Một giáo viên trung học phổ thông có số tiết tiêu chuẩn là 18 tiết/ tuần, nghĩa là mỗi ngày chỉ dạy trung bình ba tiết. Với số tiết tiêu chuẩn như vậy, các trường học phải tuyển rất nhiều giáo viên mới đủ biên chế đứng lớp. Trong lúc đó, mỗi giáo viên dạy xong số tiết tiêu chuẩn ở trường phải chạy đôn chạy đáo, người đi dạy hợp đồng, người thì dạy thêm, người nhận thêm việc này việc nọ... nghĩa là vẫn phải lao động thêm để đủ sống.
Dù muốn dù không, một khi đã làm việc chân trong chân ngoài thì công tác chuyên môn sẽ ít nhiều bị sao nhãng. Sao các cấp quản lý không tính tới chuyện tinh giản biên chế, tăng số tiết tiêu chuẩn lên, tăng lương giáo viên lên. Như vậy đời sống giáo viên vừa được đảm bảo, giáo viên khỏi phải làm cái việc chẳng đặng đừng là bươn chải kiếm thêm thu nhập, mà chất lượng chuyên môn chắc chắn cũng sẽ được nâng lên.
Một người thầy tốt không chỉ có trình độ chuyên môn, mà còn cần phải có lòng nhiệt tình và rất nhiều tâm huyết với nghề nghiệp. Nếu các cấp quản lý không nghĩ ra thêm biện pháp nào để tăng sức thu hút của ngành sư phạm với các nhà giáo tương lai (và cả hiện tại nữa) ngoài việc bắt cam kết để cầm chân, e rằng sẽ chỉ tuyển dụng được những thợ dạy học mà thôi. Lòng nhiệt tình và tâm huyết không có bản cam kết nào có thể bảo đảm được.
MINH THƯ

“Vay tiền ở đây đa số là giáo viên”


Thứ Hai, 23/04/2012, 04:03 (GMT+7)
TT - Có chuyện này không biết kể ra thì vui hay buồn nữa. Anh nhân viên ngân hàng lúc tôi đến làm việc còn chưa kịp xưng danh đã nhanh nhảu hỏi rằng: “Chị là giáo viên trường nào?”.
Ban đầu tôi rất phục khả năng nhìn người đoán nghiệp của anh. Vài phút sau, chừng 3-4 khách hàng đến nữa, anh vẫn hỏi câu cũ (và tất cả đều đúng). Nhìn thấy vẻ ngạc nhiên của tôi, anh giải thích: “Đến vay tiền ở đây đa số là giáo viên mà chị”, rồi nhanh nhẹn hỏi hệ số lương của từng người, cộng thêm hệ số phụ cấp thâm niên rồi còn khen “lương giáo viên cũng đỡ”.
Tại khách hàng của anh đông, tôi lại vội, nếu không sẽ đứng lại phân trần với anh rằng khoản phụ cấp thâm niên mà anh vừa cộng vào để kết luận “lương giáo viên cũng đỡ” đã làm chúng tôi phấn khởi, chờ đợi, thất vọng rồi lại trông ngóng gần một năm nay rồi.
Theo nghị định 54/2011/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ tháng 9-2011 thì giáo viên giảng dạy từ năm thứ 6 trở đi sẽ được nhận thêm phụ cấp thâm niên 1% cho mỗi năm công tác, được tính hưởng từ tháng 5-2011. Hàng triệu giáo viên hân hoan chào đón nghị định như đón một luồng gió mới, hớn hở hi vọng rằng với sự đầu tư chính đáng của Nhà nước, đời sống từ nay sẽ bớt khó khăn vất vả.
Thế rồi hết tháng 9, tháng 10... rồi hết cả năm 2011 mà khoản phụ cấp kia chẳng thấy đâu, trong khi giá cả đã leo thêm mấy bậc thang đẩy giáo viên càng lâm vào cảnh khốn đốn. Nhiều giáo viên lâu năm tin tưởng vào khoản phụ cấp, vay trước tiền đầu tư mua máy tính cho con có điều kiện học hành, vay tiền mua xe máy để tiện đi lại... chờ khi nhận phụ cấp thâm niên sẽ hoàn trả, nhưng cứ chờ mãi cho đến tận bây giờ...
Trước sự sốt ruột của giáo viên, có người quản lý giáo dục lại giải thích “nhận trễ thì sẽ được truy lãnh”, còn việc bao giờ được nhận vẫn là “một câu hỏi lớn không lời đáp”. Vâng, nhận trễ sẽ được truy lãnh, có gì đâu mà sốt ruột. Nhưng làm sao mà bảo giáo viên bình tĩnh chờ đợi khi vật giá leo thang vùn vụt, giá xăng, giá gas, giá điện... đã tăng thêm đến mấy lần, giá trị của khoản trợ cấp thâm niên ngày càng teo tóp?
Giáo viên chúng tôi đã thôi không còn trông mong sẽ “sống được bằng lương” như có vị lãnh đạo trước đây hứa. Thế nhưng, những quyền lợi chính đáng của giáo viên (đã có nghị định rành rành) thì rất mong các cấp lãnh đạo quan tâm giải quyết kịp thời, đừng để chúng tôi chờ đợi mỏi mòn nữa.
LÊ THÚY HẰNG

Thứ Hai, 26 tháng 9, 2011

Khi không có “tự nguyện”

Thứ Ba, 27/09/2011, 05:10 (GMT+7)
TT - Theo dõi câu chuyện về những giáo viên Trường mầm non xã Mậu Lâm và Thanh Tân, huyện miền núi Như Thanh (Thanh Hóa), không ai không thấy xót xa. Các cô giáo mầm non đã quay lại trường, được hứa hẹn sẽ được trợ cấp thêm mỗi người 300.000 đồng/tháng.
Khoản trợ cấp ấy, cộng với thu nhập chưa đến 500.000 đồng, trong thời buổi gạo châu củi quế này chắc chắn sẽ chẳng giúp vợi bớt mấy khó khăn cho cuộc sống vốn rất vất vả của các cô. Đương nhiên còn hàng ngàn giáo viên mầm non khác cũng đang nhận lương “ngày chưa đủ bát phở” nhưng chưa dám đồng loạt bỏ việc để khiếu nại. Cũng còn vô số điểm trường mầm non dột nát, thiếu thốn đủ đường trên khắp đất nước ta chứ không riêng gì ở xã Mậu Lâm hay xã Thanh Tân.
Lý do cho sự thiếu thốn khổ sở ấy, như phân bua của các nhà quản lý, là thiếu kinh phí, trông chờ chủ yếu vào sự hỗ trợ của phụ huynh. Với địa bàn huyện miền núi, phụ huynh đương nhiên là quá khó khăn để đóng góp các khoản “tự nguyện”. Lại quay trở lại chuyện tiền trường đang nóng hổi hiện nay.
Phần lớn những ai có con đang đi học đều cảm thấy choáng ngợp trước danh sách dài (gần hai mặt tờ A4) liệt kê tất tần tật những khoản tiền phải nộp đầu năm học. Và ngược đời là ở nhiều nơi con càng nhỏ thì danh sách càng dài và tổng các khoản thu càng lớn.
Không riêng gì trường tư thục hay bán công, phụ huynh học sinh các trường công lập cũng phải “cắn răng tự nguyện đóng góp” đủ các khoản rất khó hiểu: tiền thuê bảo vệ, thuê tạp vụ, trả tiền giáo viên hợp đồng, xây dựng này, sửa chữa nọ, quỹ hội phụ huynh trường, quỹ hội phụ huynh lớp, xã hội hóa trường, xã hội hóa lớp... loạn cả lên. Thu nhiều đến nỗi nhiều người ví von trường học sống được nhờ “bầu sữa phụ huynh”.
Nếu dứt “bầu sữa” đó thì sẽ như thế nào? Có khá hơn chút ít nào so với tình hình của các trường mầm non ở huyện miền núi Như Thanh, Thanh Hóa không? Không phải biện hộ nhưng ai có tham dự phần dự tính chi tiêu nội bộ ở hội nghị xây dựng kế hoạch các trường đầu năm sẽ cảm thấy rất mệt mỏi với các khoản chi “theo quy chế” chi li, tỉ mỉ đến tận 500 đồng lẻ.
Thế nhưng mỗi năm, các trường đều phải tham gia hết phong trào này đến hoạt động nọ, không khoản nào là không cần đến tiền cũng như tổng kết hằng năm để động viên tinh thần, sở cũng gửi danh sách “khen” về để trường “thưởng”. Trường, cực chẳng đã lại phải quay sang nhờ “bầu sữa phụ huynh”.
Trước tình hình tiền trường mỗi nơi thu một kiểu, biện pháp chính mà các cơ quan quản lý đưa ra là “cấm lạm thu”. Cấm nhưng không hướng dẫn rõ nếu có những khoản phải chi khác thì nhà trường phải lấy ở đâu. Trong khi đó, các khoản cần chi vẫn cứ phải chi nên các trường lại “linh hoạt” biến thành trăm thứ lắt nhắt khác dưới danh nghĩa “thỏa thuận giữa phụ huynh và nhà trường”. Tiền trường trở thành một mớ bòng bong đầy ám muội.
LÊ THÚY HẰNG

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2011

Học sinh không giao tiếp được bằng tiếng Anh


TT - Một thực tế đáng buồn là đa số học sinh sau khi tốt nghiệp THPT đều không thể sử dụng vốn tiếng Anh đã học để giao tiếp cơ bản được. Học sinh thì than thở học tiếng Anh như leo cột mỡ, càng cố leo càng tụt xuống.

Giáo viên thì mệt mỏi vì dạy như “nước đổ đầu vịt”. Không biết làm thế nào để “đến năm 2020 đa số thanh niên Việt Nam tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng và đại học có đủ năng lực ngoại ngữ sử dụng độc lập, tự tin trong giao tiếp, học tập, làm việc trong môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ, đa văn hóa; biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam...” như dự thảo chương trình tiếng Anh tiểu học thuộc đề án 2020 đưa ra được đây.

Hè năm nay, lần lượt giáo viên tiếng Anh các cấp được khảo sát năng lực cấp tốc. “Cấp tốc” theo đúng nghĩa: giáo viên chỉ được thông báo khảo sát cách đó độ một tuần (có nơi còn ít hơn), không biết mình sẽ được khảo sát những nội dung gì và như thế nào, đến ngày thi mới tá hỏa biết rằng mình đang được khảo sát theo tiêu chuẩn châu Âu. Kết quả, tất nhiên, sẽ rất thấp. Và sẽ có kết luận là bao nhiêu phần trăm giáo viên tiếng Anh không đạt chuẩn và phải đi đào tạo lại. Cơ hồ như việc học sinh phổ thông học yếu ngoại ngữ là trách nhiệm chính của đội ngũ giáo viên.

Khoan hãy bàn đến độ tương ứng giữa kiến thức ngôn ngữ dùng cho việc dạy học và kiến thức ngôn ngữ được dùng để khảo sát giáo viên. Vấn đề của tiếng Anh THPT hiện nay là sự khập khiễng giữa việc học và việc kiểm tra đánh giá, giữa tham vọng lồng ghép quá nhiều thứ và mục tiêu chính của ngôn ngữ là giao tiếp.

Mỗi đơn vị bài học trong chương trình tiếng Anh THPT được chia thành năm kỹ năng: đọc, nói, nghe, viết và ngữ pháp - ngữ âm nhưng bài thi tốt nghiệp lại chỉ kiểm tra được chủ yếu kỹ năng ngữ pháp và đọc hiểu. Do vậy, học sinh khá thờ ơ các kỹ năng còn lại.

Bên cạnh đó, lượng kiến thức cung cấp lại quá ôm đồm và mang tính chất hàn lâm như thể chuẩn bị cho học sinh sau khi tốt nghiệp sẽ đi sâu vào nghiên cứu chứ không phải là giao tiếp.

Bản thân giáo viên cũng bối rối không biết nên làm thế nào cho đúng. Để giao tiếp được thì các kỹ năng ngôn ngữ phải được luyện tập đến mức trôi chảy (ưu tiên mức độ thông thạo hơn là chính xác). Trong khi theo như tiêu chí đánh giá nặng về lý thuyết và tính chính xác cao như hiện nay, để đạt kết quả cao, bất đắc dĩ chúng tôi phải dạy học sinh những mẹo làm bài. Ví dụ như nguyên tắc đánh trọng âm, phát âm: tận cùng bằng ký tự này thì đánh trọng âm thế này, phiên âm thế kia.

Điều này dẫn đến một nghịch lý là khi làm bài kiểm tra các em làm đúng nhưng khi sử dụng ngôn ngữ thì lại sai. (Điều này gần giống như các mẹo khi thi lý thuyết lái xe - kết quả có thể cao nhưng khi ứng dụng lại kém).

Để nâng cao hiệu quả thật sự của việc dạy và học tiếng Anh THPT, thiết nghĩ việc đổi sách hay rà soát năng lực giáo viên không quan trọng bằng việc thay đổi cách thức đánh giá, kiểm tra. Nên chăng cần xem ngoại ngữ như một chứng chỉ bắt buộc khi tốt nghiệp THPT?

LÊ THÚY HẰNG (giáo viên tiếng Anh ở  Quảng Trị)